Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

27 Jan, 2026 18

Hoàn thiện khung pháp lý về thuốc BVTV sinh học theo tiêu chuẩn ASEAN

Hoàn thiện khung pháp lý quản lý, đăng ký thuốc BVTV sinh học được xem là giải pháp then chốt nhằm thúc đẩy nông nghiệp an toàn, bền vững và hội nhập khu vực. Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Quang Hiếu phát biểu khai mạc hội nghị. Tại hội nghị quốc tế về quản lý và đăng ký thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học do Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp với Hiệp hội CropLife Châu Á tổ chức, các đại biểu đại diện cho các cục, vụ, viện trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV Việt Nam đã cùng nhau thảo luận các nội dung liên quan đến định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo các nguyên tắc hài hòa chung của ASEAN, đồng thời phù hợp với Đề án phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ưu tiên phát triển nông nghiệp bền vững là định hướng xuyên suốt của Chính phủ. Quan điểm của Việt Nam là xây dựng hệ thống quản lý hiện đại, khoa học, tạo điều kiện thuận lợi để thuốc BVTV hóa học và sinh học cùng phát huy vai trò theo hướng bổ trợ lẫn nhau. Trong đó, hài hòa hóa nguyên tắc quản lý ở cấp khu vực ASEAN được xem là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch, giảm rào cản kỹ thuật và thúc đẩy đổi mới sáng tạo; qua đó hỗ trợ nông dân tiếp cận đa dạng các công cụ quản lý dịch hại an toàn và hiệu quả. Ông Phạm Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết: “Tổ chức những hội nghị, sự kiện quốc tế như thế này là cơ hội rất tốt để Việt Nam có thể trao đổi kinh nghiệm, dữ liệu liên quan trong quá trình xây dựng khung pháp lý, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý của Việt Nam trong công tác đăng ký và quản lý thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Chúng tôi cũng rất mong muốn thông qua hội nghị có thể kết nối, xây dựng mạng lưới chuyên gia để hỗ trợ cho việc phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong thời gian tới của Việt Nam.” Bên cạnh những trao đổi chuyên sâu về hệ thống đăng ký và quản lý thuốc BVTV sinh học của các nước ASEAN, hội nghị cũng chia sẻ kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống quản lý tiên tiến như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Brazil, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các thảo luận tập trung vào những nội dung cốt lõi như: phân loại sản phẩm; yêu cầu dữ liệu đăng ký; khảo nghiệm; quản lý chất lượng; quản lý dư lượng; và đánh giá rủi ro sinh học. Ảnh minh họa Đặc biệt, trong phiên thảo luận chuyên sâu dành cho Việt Nam, các khuyến nghị chính sách và bài học kinh nghiệm đã được chia sẻ trực tiếp với cơ quan quản lý, góp phần cung cấp cơ sở tham khảo quan trọng trong quá trình rà soát và hoàn thiện khung pháp lý trong thời gian tới. Đây được xem là bước đi thiết thực nhằm hiện thực hóa Đề án phát triển và sử dụng thuốc BVTV sinh học, hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ lệ sử dụng giải pháp sinh học tại Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp an toàn, hiện đại và bền vững. Chương trình quản lý thuốc BVTV sinh học trong khu vực ASEAN do Nhóm công tác ABTF phối hợp với CropLife Châu Á triển khai trong khoảng 30 tháng, tập trung vào rà soát và phân tích khung pháp lý hiện hành; thúc đẩy hài hòa hóa các yêu cầu đăng ký dựa trên cơ sở khoa học; xây dựng phương pháp đánh giá thống nhất; nâng cao năng lực kỹ thuật; đồng thời tăng cường hợp tác công – tư trong chia sẻ kiến thức và triển khai các mô hình thử nghiệm thực địa, hướng tới thúc đẩy áp dụng thuốc BVTV sinh học trong khu vực. Đối với các quốc gia ASEAN nói chung, chương trình sẽ góp phần nâng cao năng lực quản lý, hỗ trợ sử dụng thuốc BVTV sinh học an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm. Riêng đối với Việt Nam, chương trình là kênh tham khảo quan trọng về kinh nghiệm và thực tiễn quốc tế, hỗ trợ quá trình rà soát, chỉnh sửa và hoàn thiện khung pháp lý về thuốc BVTV, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu quốc gia về tăng cường sử dụng thuốc BVTV sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phù hợp với định hướng hội nhập và phát triển nông nghiệp. Ông Rickky Ho, Giám đốc Khoa học và Pháp chế, CropLife Châu Á, phát biểu: “Việt Nam cần tiếp tục hài hòa hóa khung đăng ký thuốc bảo vệ thực vật sinh học theo tiêu chuẩn quốc tế thông qua việc đẩy nhanh, đơn giản hóa các quy định về đăng ký thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Tôi tin rằng tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở Việt Nam sẽ có sự cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, đồng thời bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.” Quang cảnh hội nghị. Việc sử dụng thuốc BVTV sinh học xuất phát từ yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững; bảo đảm an toàn thực phẩm, sức khỏe cộng đồng và môi trường; đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu. Đây không chỉ là xu thế quốc tế mà còn là yêu cầu quản lý tất yếu của Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Việt Nam kỳ vọng, thông qua hợp tác ASEAN, sẽ từng bước hài hòa khung pháp lý, chia sẻ dữ liệu khoa học, nâng cao năng lực kỹ thuật và giảm các rào cản không cần thiết trong đăng ký và lưu hành thuốc BVTV sinh học, đồng thời vẫn bảo đảm phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Theo Hải Đăng - Quang Dũng - Đức Việt - nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

23 Jan, 2026 43

Đến năm 2030, truy xuất nguồn gốc 100% sản phẩm OCOP

Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu, đến năm 2030 hỗ trợ ít nhất 1.500 hợp tác xã, 4.500 tổ hợp tác trong nông nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh theo quy trình, tiêu chuẩn chất lượng an toàn; 100% sản phẩm OCOP nông sản thực phẩm được truy xuất nguồn gốc.Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi đối thoại với nông dân năm 2025Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Quyết định số 110/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nông dân sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng giai đoạn 2026 - 2030” (Đề án).100% sản phẩm OCOP được truy xuất nguồn gốcĐề án đặt ra mục tiêu nâng cao vai trò, hiệu quả tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm của Hội Nông dân; phát huy vai trò, khơi dậy tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng của hội viên, nông dân trong sản xuất, kinh doanh; thu hút ngày càng nhiều hội viên, nông dân, cá nhân và tổ chức tham gia phát triển các chuỗi giá trị nông sản, cung ứng thực phẩm an toàn; nhân rộng các mô hình sản xuất, chăn nuôi, nuôi trồng tiên tiến, chất lượng; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập. Bên cạnh đó, Đề án đề ra mục tiêu, đến năm 2030, trên 95% hộ hội viên nông dân sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm có kiến thức và thực hành đúng về an toàn thực phẩm; tư vấn, hỗ trợ ít nhất 3.000 Chi Hội Nông dân nghề nghiệp, 18.000 Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm theo quy trình, tiêu chuẩn chất lượng an toàn. Đề án cũng đặt mục tiêu hướng dẫn, hỗ trợ ít nhất 1.500 hợp tác xã, 4.500 tổ hợp tác trong nông nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh theo quy trình, tiêu chuẩn chất lượng an toàn, trong đó có ít nhất 300 hợp tác xã kết nối chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Bên cạnh đó, 100% sản phẩm OCOP nông sản thực phẩm do Hội Nông dân vận động, tư vấn, hỗ trợ được truy xuất nguồn gốc; 100% cán bộ Hội Nông dân làm công tác tư vấn, hỗ trợ được bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ năng tuyên truyền, vận động, tư vấn, hỗ trợ nông dân sản xuất, bảo quản, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn. Đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm Để đạt mục tiêu trên, Đề án đặt ra các nhiệm vụ và giải pháp, trong đó thông tin, tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức là giải pháp then chốt nhằm vận động, thu hút hội viên, nông dân tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Việc tuyên truyền sẽ tập trung đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm; tổ chức tập huấn, hội nghị, diễn đàn, tọa đàm, nâng cao nhận thức, kiến thức, qua đó xây dựng văn hóa sản xuất, tiêu dùng thực phẩm an toàn trong nông dân. Song song với đó là vận động hội viên, nông dân tham gia, ký cam kết, chứng nhận cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn; đưa an toàn thực phẩm vào sinh hoạt chi, tổ hội, câu lạc bộ của nông dân; gắn tuyên truyền với xây dựng mô hình điểm. Phát huy hệ thống truyền thông giới thiệu các mô hình, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm, tầm quan trọng đối với sức khỏe; tuyên truyền chế tài xử phạt, lên án các hành vi vi phạm; đăng tải danh sách các cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm bị xử lý; tạo dư luận xã hội, tẩy chay các sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo an toàn thực phẩm. Nâng cao chất lượng phong trào “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”, phong trào “Cán bộ, hội viên nông dân tích cực tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp” gắn với các mô hình an toàn thực phẩm, phong trào “Nông dân nói không với thực phẩm bẩn”. Song hành với việc thông tin, tuyên truyền là tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân, chi, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp thực hành về an toàn thực phẩm. Trong đó, tập huấn, hướng dẫn cho hội viên, nông dân các phương pháp chế biến, bảo quản khoa học, sử dụng đúng cách hóa chất bảo vệ thực vật, an toàn thức ăn chăn nuôi, phân bón, hóa chất xử lý nước nuôi; sử dụng chế phẩm hữu cơ, sinh học.Mô hình trồng lúa VietGAP tại TP. Hà NộiCùng với đó, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân xây dựng, nhân rộng các mô hình xanh, hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, VietGAP trong trồng trọt; mô hình 3F, VietGAP trong chăn nuôi; nuôi hữu cơ, sinh thái, IMTA, Aquaponics, VietGAP trong nuôi trồng thủy sản; tham gia chuỗi giá trị. Tư vấn, hỗ trợ chi Hội, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp ứng dụng công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị; áp dụng các quy trình GMP, GHP, biện pháp SPS trong sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm. Hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa nông sản, phát triển sản phẩm OCOP, đăng ký mã số vùng trồng, vùng nuôi, xây dựng mã QR code truy xuất nguồn gốc nông sản. Hỗ trợ hội viên, nông dân, chi Hội, tổ Hội Nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã tiếp cận, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong sản xuất, bảo quản, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm, xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Bên cạnh đó, Đề án cũng đề ra nhiệm vụ và giải pháp cụ thể về tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân, chi, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi số trong sản xuất, kinh doanh gắn với an toàn thực phẩm; tăng cường vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân tham gia kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; Nâng cao chất lượng tham gia hỗ trợ thực hành về an toàn thực phẩm của Hội Nông dân các cấp; tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong hợp tác quốc tế về an toàn thực phẩm; phát huy vai trò của các tổ chức trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp thống nhất hành động tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Cũng theo Đề án, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Trung ương Hội Nông dân thực hiện một số hoạt động của Đề án, lồng ghép các hoạt động của Đề án theo lĩnh vực, nhiệm vụ của Bộ và trong hợp phần Chương trình mục tiêu quốc gia thuộc trách nhiệm của Bộ được giao chủ trì; bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn; xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin vùng trồng, vùng nuôi phục vụ truy xuất nguồn gốc; kiểm tra, giám sát đầu vào trong sản xuất. Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn, chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với Hội Nông dân thực hiện Đề án phù hợp theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quản lý của Bộ. Đồng thời bố trí kinh phí cho Hội Nông dân thực hiện thông tin, tuyên truyền, xây dựng mô hình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng theo quy trình, tiêu chuẩn chất lượng an toàn thực phẩm từ nguồn kinh phí của Bộ được cấp hằng năm.Theo Minh Thành - nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

02 Jan, 2026 256

Ra mắt hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức ra mắt hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam và thí điểm truy xuất nguồn gốc với trái sầu riêng trong 6 tháng, sau đó sẽ triển khai trên phạm vi rộng từ 1-7-2026. Các đại biểu ra mắt hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam - Ảnh: C.TUỆChiều 26-12, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lễ ra mắt hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam. Hệ thống truy xuất nông sản Việt Nam là nền tảng số phục vụ việc ghi nhận, quản lý và tra cứu thông tin nguồn gốc đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và lưu thông trên thị trường.Thông qua hệ thống, người tiêu dùng có thể kiểm tra thông tin sản phẩm một cách minh bạch. Khi quét mã QR do Bộ Công an phát hành dán trên sản phẩm, người dân có thể truy xuất nguồn gốc được hiển thị trên website của bộ (địa chỉ https://traceviet.mae.gov.vn). Trước mắt, bộ sẽ thí điểm truy xuất nguồn gốc trái sầu riêng từ 1-1-2026 đến 30-6-2026 với mục tiêu xây dựng kho dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc trên cơ sở kết nối, tích hợp dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu của doanh nghiệp tham gia được ký số theo quy định.Hiện nay, có 6 doanh nghiệp xuất khẩu sầu riêng đã tích cực tham gia thử nghiệm trong chuỗi sản xuất - cung ứng, tổ chức cấp và gắn tem xác thực điện tử cho các lô sầu riêng đáp ứng yêu cầu. Sau thí điểm, các bên sẽ đánh giá hiệu quả về độ chính xác thông tin, mức độ thuận tiện, chi phí và lợi ích. Từ đó hoàn thiện kỹ thuật, quy trình để mở rộng áp dụng cho các mặt hàng nông sản khác, hướng tới triển khai chính thức trên phạm vi rộng vào 1-7-2026.Mã QR do Bộ Công an phát hành để truy xuất nguồn gốc hàng hóa trên quả sầu riêng - Ảnh: C.TUỆPhát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng nhấn mạnh hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản không chỉ là một giải pháp công nghệ, mà còn là công cụ quản lý hiện đại, góp phần phòng chống gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, đồng thời thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, có trách nhiệm và giá trị gia tăng cao. Theo ông Thắng, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, giá trị của nông sản không chỉ nằm ở sản lượng, mà nằm ở chất lượng, minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc. "Hệ thống được ra mắt hôm nay sẽ giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và bà con nông dân tiếp cận công nghệ số thuận lợi hơn, chi phí hợp lý hơn. Tăng khả năng kết nối thị trường, mở rộng xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường khó tính. Đồng thời từng bước hình thành văn hóa sản xuất nông nghiệp dựa trên nền tảng dữ liệu, đổi mới sáng tạo và tiêu chuẩn hóa" - ông Thắng nói. Ông nhấn mạnh mục tiêu của bộ là làm sao người dân Việt Nam sớm được sử dụng nông lâm thủy sản do chúng ta sản xuất ra đảm bảo an toàn, sạch. Sau thí điểm truy xuất nguồn gốc quả sầu riêng, trong thời gian sớm nhất bộ sẽ tiếp tục triển khai sản phẩm nông nghiệp khác được tiêu thụ ở nước ta cũng như xuất khẩu.Theo CHÍ TUỆ - tuoitre.vn

Xem chi tiết..

17 Nov, 2025 415

VÙNG TRỜI DƯỚI 1.000m - "MỎ VÀNG" 10 TỶ USD CỦA VIỆT NAM

Với tiềm năng được đánh giá có thể đạt 10 tỷ USD, kinh tế tầm thấp được kỳ vọng sẽ là không gian tăng trưởng mới của Việt Nam. Ngày 14/11, tại diễn đàn quốc tế kinh tế tầm thấp Việt Nam 2025, các đại biểu đã thảo luận về cơ hội để Việt Nam bứt phá trong lĩnh vực hàng không tầm thấp (LAE) - một lĩnh vực đang được nhiều quốc gia ưu tiên phát triển và đầu tư mạnh mẽ. Quy mô thị trường 10 tỷ USD Theo các chuyên gia, chỉ riêng ngành hàng không tầm thấp được định giá dự kiến đạt khoảng 700 tỷ USD vào năm 2035. Tại Việt Nam, tiềm năng của kinh tế tầm thấp được đánh giá có thể đạt 10 tỷ USD. Với các lợi thế về địa chính trị, chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, lực lượng lao động trẻ và năng động, Việt Nam, đang đứng trước "cơ hội ngàn năm có một" để trở thành trung tâm công nghiệp tầm thấp của khu vực và thế giới. Liên minh Kinh tế tầm thấp (LAE) của Việt Nam được ra mắt ngày 10/10/2025 là một trong những bước đi đầu tiên hiện thực hóa tầm nhìn này. Liên minh kỳ vọng nền kinh tế mới này sẽ thúc đẩy hàng nghìn doanh nghiệp phụ trợ, tạo 1 triệu việc làm chất lượng cao và mang về hàng chục tỷ USD cho Việt Nam trong 10-15 năm tới. Với mục tiêu hiện thực hóa Nghị quyết 57 về đột phá khoa học - công nghệ và Quyết định số 1131 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, diễn đàn nhấn mạnh tiềm năng của UAV và công nghệ hàng không, vũ trụ trong phát triển kinh tế tầm thấp, mở ra ngành công nghiệp mới, bền vững và là trụ cột cho kinh tế số, đô thị thông minh và nông nghiệp hiện đại.Nền kinh tế tầm thấp bao gồm các hoạt động kinh tế diễn ra dưới độ cao 1.000m, có thể mở rộng đến dưới 5.000m tùy theo nhu cầu thực tế của từng quốc gia, tận dụng công nghệ bay có và không người lái, mạng thông minh tầm thấp để phát triển hạ tầng, sản xuất phương tiện bay, dịch vụ và bảo đảm an toàn bay, chủ yếu dựa trên việc ứng dụng thiết bị bay không người lái (UAV) và các công nghệ liên quan trong các lĩnh vực như nông nghiệp, logistics, giám sát môi trường, giao thông, truyền thông và giải trí… Phát biểu tại sự kiện, ông Vũ Anh Tú, Giám đốc Công nghệ Tập đoàn FPT, nhấn mạnh thị trường toàn cầu đã đạt quy mô hàng trăm tỷ USD, tăng trưởng 30% mỗi năm và được các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, châu Âu xác định là ngành công nghiệp chiến lược.Ông Vũ Anh Tú - Giám đốc công nghệ tập đoàn FPTTheo ông Tú, Việt Nam đang đứng trước "thời điểm vàng" để bước vào lĩnh vực này, mở ra một ngành kinh tế hoàn toàn mới dựa trên công nghệ hàng không, vũ trụ và UAV. Lãnh đạo FPT cho rằng "bầu trời Việt Nam" đang mở ra một không gian phát triển chưa từng có tiền lệ, đặc biệt khi Đồng bằng sông Cửu Long đang trở thành vùng ứng dụng UAV lớn nhất cả nước, đồng thời là địa bàn thử nghiệm của nhiều tập đoàn quốc tế. Động lực tăng trưởng mới Phân tích về dư địa phát triển của ngành kinh tế tầm thấp, ông Vũ Anh Tú chỉ ra rằng, kinh tế tầm thấp mở ra cơ hội hình thành một ngành nghề hoàn toàn mới tại Việt Nam - không chỉ sản xuất UAV, mà còn bao gồm thiết bị, chip, cảm biến, xây dựng nền tảng quản lý bay và bản đồ số 3D, phát triển dịch vụ vận hành, bảo hiểm, đào tạo, cùng ứng dụng trong nông nghiệp và các lĩnh vực khác. “Kinh tế tầm thấp mở động lực tăng trưởng mới, nơi Việt Nam có thể cất cánh bằng trí tuệ, công nghệ và sự hợp tác đa chiều giữa nhà nước - doanh nghiệp, trường viện và người dân. Nắm bắt cơ hội và đầu tư kinh tế tầm thấp, chúng ta đang thúc đẩy ba trụ cột của thời đại mới gồm: kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức; đồng thời đánh thức tiềm năng sáng tạo của đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học Việt Nam, mang lại dịch vụ tốt hơn cho người dân vùng sâu, vùng xa, hải đảo và khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghệ toàn cầu”, ông Vũ Anh Tú nhấn mạnh.Theo Ngọc Lưu - vietnamfinance.vn

Xem chi tiết..

11 Nov, 2025 269

MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG SẢN XUẤT CÀ PHÊ

“Sổ tay về Thực hành Kinh tế Tuần hoàn trong Ngành Cà phê Việt Nam” được xây dựng bởi các chuyên gia của Trung tâm Thông tin và Dịch vụ Nông nghiệp và Môi trường (AGREINFOS) thuộc Viện Chính sách và Chiến lược cho Nông nghiệp và Môi trường (IPSAE), với sự hỗ trợ kỹ thuật từ UNDP Việt Nam, CIRAD và CGIAR.Sổ tay dựa trên Bộ công cụ “Kinh tế tuần hoàn – Đóng góp do quốc gia tự quyết định” (Circular Economy – Nationally Determined Contributions, CE-NDC Toolkit), được đồng phát triển bởi UNDP, Mạng lưới One Planet của UNEP và Ban Thư ký UNFCCC. Bộ công cụ này cung cấp một khung hướng dẫn thực tiễn nhằm giúp các quốc gia lồng ghép các nguyên tắc kinh tế tuần hoàn (CE) vào chiến lược khí hậu quốc gia (NDC). Việt Nam là một trong bảy quốc gia tiên phong trên thế giới triển khai Bộ công cụ CE-NDC.Sổ tay hướng đến các đối tượng: Nông dân trồng cà phê, cơ sở chế biến, doanh nghiệp xuất khẩu, hợp tác xã, các viện nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan trong toàn chuỗi giá trị nông nghiệp, với mục tiêu thúc đẩy thực hành tuần hoàn trong suốt các khâu sản xuất, chế biến và tiêu dùng. Tài liệu cung cấp các khuyến nghị dựa trên bằng chứng và hướng dẫn thực hành nhằm giảm chất thải, tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính (GHG), qua đó đóng góp vào mục tiêu khí hậu trong NDC 3.0 của Việt Nam.Không chỉ là tài liệu tham khảo kỹ thuật, sổ tay còn đóng vai trò như một cẩm nang chính sách hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và chính quyền địa phương trong việc lồng ghép các nguyên tắc kinh tế tuần hoàn vào quy hoạch nông nghiệp bền vững – góp phần xây dựng một ngành cà phê xanh hơn, có khả năng chống chịu tốt hơn và thích ứng với biến đổi khí hậu.Quý vị có thể đọc chi tiết quyển sổ tay tại đây.

Xem chi tiết..

07 Nov, 2025 352

THẾ HỆ DOANH NÔNG MỚI - NHỮNG NGƯỜI GIEO HY VỌNG XANH

Trồng cây, nuôi cá, làm phân hữu cơ, phục hồi đất đai, mỗi công việc đều có thể làm nhanh, làm lớn, nếu ta chỉ tính lời lỗ. Nhưng đất sẽ không nghe lời người tính toán. Nó chỉ nghe lời của người biết thương. Tôi nhận ra rằng một doanh nhân nông nghiệp chân chính không thể chỉ là người mua và bán, mà phải là người nuôi dưỡng. Nuôi cây, nuôi đất, nuôi niềm tin vào một nền nông nghiệp xanh, tử tế, nhân bản. Tôi đã gặp nhiều bạn trẻ, những người không sinh ra trong ruộng đồng, nhưng lại chọn về với nông nghiệp bằng lý tưởng. Có bạn rời thành phố, về quê trồng rau hữu cơ. Có nhóm sinh viên lập dự án nuôi ong rừng, trồng rừng phòng hộ. Có cô gái mang nghề thiết kế sản phẩm đến với làng nghề dừa nước, biến phế phẩm thành quà tặng sinh thái. Họ là thế hệ doanh nông mới, những người không coi nông nghiệp là “lùi về”, mà là “tiến tới”, không xem cây lúa, con cá là sản phẩm, mà là thông điệp xanh gửi đến xã hội. Họ đến với nông nghiệp không chỉ để mưu sinh, mà để tìm ý nghĩa sống. Và chính điều đó làm tôi xúc động, vì tôi thấy lại mình của thuở khởi đầu: say mê, ngây ngô, tin rằng nếu làm điều đúng thì trời đất sẽ thương.Dù ở bất cứ cương vị nào,  ông Lê Minh Hoan luôn quan tâm, đồng hành cùng các bạn trẻ trong hệ sinh thái Khởi nghiệp xanhTôi đã từng mở các buổi cà phê doanh nông, mời nông dân, kỹ sư, sinh viên, chuyên gia đến trò chuyện. Không có bục giảng, không có bài giảng, chỉ có những câu chuyện thật. Tôi bảo họ: “Khởi nghiệp xanh không phải con đường ngắn. Làm nông nghiệp không có đường tắt. Nhưng nếu mình kiên trì, nếu mình không quên gốc rễ, đất sẽ trả lại cho mình điều xứng đáng”. Từ những buổi gặp gỡ ấy, tôi kết nối họ thành nhóm, “Liên minh khởi nghiệp xanh”. Mỗi người một lĩnh vực, nhưng cùng chung tinh thần: làm tử tế, sống xanh, phát triển bền vững, cùng nhau chia sẻ kiến thức, hỗ trợ kỹ thuật, tìm đầu ra, lập thương hiệu, rồi đi thi… Khi những dự án ấy đoạt giải, không chỉ là giải thưởng, mà là sự khẳng định rằng nông nghiệp Việt Nam vẫn còn những người dám tin, dám mơ và dám làm. Càng đi sâu vào nông nghiệp, tôi càng thấy văn hóa không nằm ngoài kinh doanh. Nó ở trong từng cách làm việc, từng mối quan hệ, từng hạt giống mình gieo. Văn hóa dạy chúng ta làm ăn có nghĩa, làm người có tâm, làm nghề có trách nhiệm. Doanh nhân nông nghiệp không chỉ tính lợi nhuận cho công ty, mà phải tính lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường, cho thế hệ mai sau. Bởi vì, nếu đất không còn tốt, sông không còn trong, người nông dân không còn hạnh phúc, thì dù doanh nghiệp có giàu đến đâu, cũng chẳng thể gọi là thành công. Giờ đây, mỗi khi nhìn những bạn trẻ mang sản phẩm dự thi, thuyết trình say sưa về mô hình kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ, du lịch sinh thái…, tôi lại thấy trong mắt họ ánh lên niềm tin vào một Việt Nam nông nghiệp xanh và tử tế. Và tôi hiểu, mình không còn đơn độc. Bởi vì trên hành trình gieo hạt, luôn có người trẻ nối tiếp. Nông nghiệp sẽ không bao giờ là câu chuyện của riêng người nông dân, mà là bản giao hưởng của những trái tim cùng hướng về đất, cùng gieo một niềm tin xanh cho tương lai. Hãy tự hào khi giới thiệu: “Tôi là doanh nông”Theo BSA media

Xem chi tiết..

22 Oct, 2025 367

HƯỚNG TỚI NỀN NÔNG NGHIỆP XANH: BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG BỐ ĐỀ ÁN GIẢM PHÁT THẢI TRONG TRỒNG TRỌT 2025–2035

Sáng ngày (22/10), Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050”.Đề án, được phê duyệt tại Quyết định số 4024/QĐ-BNNMT ngày 29/9, đặt mục tiêu hướng tới nền nông nghiệp phát thải thấp, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Hoàng Trung chủ trì, có sự tham dự của lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ, đại diện địa phương cùng nhiều tổ chức quốc tế như FAO, World Bank, GIZ, UNDP, các doanh nghiệp và viện nghiên cứu. Sự kiện khẳng định quyết tâm của ngành nông nghiệp trong thực hiện cam kết giảm 30% phát thải khí nhà kính vào năm 2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và có trách nhiệm với môi trường toàn cầu.Các đại biểu tham dự Hội nghị Công bố Đề án "Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035".Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung chủ trì hội nghị, với sự tham dự của lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ, đại diện các địa phương cùng các tổ chức quốc tế như FAO, World Bank, GIZ, UNDP, doanh nghiệp và viện nghiên cứu. Sự kiện thể hiện sự phối hợp đa bên trong thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp xanh, đồng thời cụ thể hóa cam kết của Việt Nam trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), hướng tới mục tiêu giảm 30% phát thải khí nhà kính vào năm 2030 và phát triển nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững.Thảo luận kế hoạch thực hiện Đề án trồng trọt giảm phát thảiHội nghị chuyển sang phần thảo luận về dự thảo Kế hoạch hành động triển khai Đề án Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2030. Thứ trưởng Hoàng Trung cho biết, dự thảo mang tính gợi ý, dựa trên cơ cấu giống cây trồng của địa phương. Ông mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp, chia sẻ để dự thảo kế hoạch đạt được mục tiêu hiệu quả.Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung cùng ông Huỳnh Tấn Đạt (Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật), ông Nguyễn Ngọc Thạch (Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường) điều hành phiên thảo luận tại Hội nghị.Xây dựng 59 mô hình trồng trọt giảm phát thải tại 34 tỉnh, thànhTrình bày dự thảo Kế hoạch hành động thực hiện Đề án “Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến 2050”, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết kế hoạch đã xác định rõ nội dung, tiến độ và trách nhiệm của từng cơ quan, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả và thống nhất.Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật là đơn vị chủ trì, điều phối và tổng hợp báo cáo; Báo Nông nghiệp và Môi trường phụ trách công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về Đề án. Các đơn vị thuộc Bộ sẽ phối hợp thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Tại địa phương, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao làm đầu mối tổ chức thực hiện, huy động nguồn lực và vốn ngoài ngân sách nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả.Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trình bày về Kế hoạch hành động thực hiện Đề án.Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết Kế hoạch hành động thực hiện Đề án gồm 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách; chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp vùng sinh thái; áp dụng kỹ thuật sản xuất giảm phát thải; xây dựng mô hình sản xuất quy mô vùng và chuỗi giá trị; thiết lập hệ thống đo lường – báo cáo – thẩm định (MRV); nâng cao năng lực, nhận thức; và kết nối thị trường cho sản phẩm phát thải thấp.Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, kế hoạch đề xuất triển khai 59 mô hình tại 34 tỉnh, thành phố, bao gồm các mô hình canh tác lúa phát thải thấp, lúa – cá/tôm, lúa – ngô/lạc, cũng như mô hình trồng ngô, sắn, rau màu, cây lâu năm (chè, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả...), cùng mô hình nông lâm kết hợp, nông nghiệp tuần hoàn, sản xuất than sinh học và chuyển đổi đất 2 lúa sang cây trồng cạn.Mỗi địa phương dự kiến xây dựng 1–3 mô hình phù hợp điều kiện thực tế, có tiềm năng giảm phát thải cao và biện pháp cụ thể cho từng loại hình sản xuất.100% diện tích cây trồng chủ lực canh tác theo hướng giảm phát thảiÔng Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết Đề án là cơ sở pháp lý quan trọng để ngành trồng trọt triển khai đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến 2050.Theo đó, đến năm 2050, 100% diện tích cây trồng chủ lực sẽ áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải; hình thành cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải, tích hợp với hệ thống giám sát quốc gia; đồng thời phổ cập nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho các ngành hàng nông sản chủ lực. Ngành đặt mục tiêu đến năm 2035 giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020.Tại địa phương, mỗi tỉnh, thành triển khai 1–2 mô hình sản xuất giảm phát thải, trong đó có ít nhất 15 mô hình đủ điều kiện phát triển tín chỉ carbon. Bên cạnh đó, ngành sẽ đào tạo khoảng 3.000 cán bộ và nông dân, xây dựng 5 bộ tài liệu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát thải thấp.Ông Huỳnh Tấn Đạt - Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật công bố những mục tiêu cụ thể của Đề án.Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết, ngành trồng trọt đặt mục tiêu đến năm 2035 giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm cơ sở 2020. Tại địa phương, mỗi tỉnh, thành sẽ triển khai 1–2 mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải, trong đó có ít nhất 15 mô hình đủ điều kiện phát triển tín chỉ carbon. Hệ thống dữ liệu phát thải sẽ được đồng bộ với Hệ thống đăng ký quốc gia. Ngành cũng sẽ đào tạo khoảng 3.000 cán bộ, nông dân và doanh nghiệp, xây dựng 5 bộ tài liệu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy sản xuất phát thải thấp.Về nội dung, Đề án tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ chính, gồm: chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp vùng sinh thái; áp dụng kỹ thuật phát thải thấp; xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị; thiết lập hệ thống MRV; nâng cao năng lực, nhận thức; và kết nối thị trường cho sản phẩm “Phát thải thấp”. Để đạt mục tiêu, 7 nhóm giải pháp sẽ được triển khai, bao gồm tăng cường quản lý nhà nước, đẩy mạnh nghiên cứu – chuyển giao khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị và mở rộng hợp tác quốc tế.Lãnh đạo Cục nhấn mạnh, Đề án sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng trồng trọt, bảo đảm an ninh lương thực, hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết giảm phát thải trong Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.Hoàn thiện kế hoạch giảm phát thải trong trồng trọtPhát biểu khai mạc, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh Đề án được ban hành đúng thời điểm, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ngành trồng trọt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Mục tiêu là tăng năng suất, giá trị sản xuất đi đôi với giảm phát thải, hướng tới nông nghiệp xanh, tuần hoàn.Đề án tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ chính, gồm tái cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật giảm phát thải, hoàn thiện hệ thống MRV, xây dựng mô hình sản xuất bền vững và phát triển cơ chế tín chỉ carbon để thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia.Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung phát biểu khai mạc Hội nghị. Theo nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

01 Oct, 2025 478

NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VÀ NGHỊCH LÝ: CHÍNH SÁCH NHIỀU, KỸ THUẬT ÍT

Đó là phát hiện nổi bật của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp qua khảo sát 275 chương trình, dự án về nông nghiệp sinh thái và các giải pháp tự nhiên.Cuối tháng 8/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức hội thảo tham vấn kỹ thuật về “chuyển đổi nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp dựa vào các giải pháp tự nhiên” nhằm đóng góp cho quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm bền vững ở Việt Nam. Sự kiện diễn ra trực tiếp – trực tuyến, thu hút khoảng 100 đại biểu từ cơ quan quản lý, viện trường, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Bài viết do phóng viên Quỳnh Chi thực hiện, đăng ngày 27/08/2025.Phó Viện trưởng NIAPP Bùi Hải Nam chia sẻ về kết quả nghiên cứu rà soát các dự án nông nghiệp sinh thái, giải pháp dựa vào tự nhiên ở Việt Nam.Lần đầu rà soát diện rộng các sáng kiến nông nghiệp sinh tháiNIAPP thực hiện nghiên cứu theo hai tầng—rà soát có hệ thống và khảo sát cấu trúc—trên 275 dự án nông nghiệp sinh thái từ 2010 đến nay. Kết quả cho thấy sau cam kết Net Zero tại COP26 (2021), số dự án tăng nhanh nhưng phân bố không đồng đều: ĐBSCL và ĐBSH dày đặc nhất, còn Đông Nam Bộ ít nhất. Phát hiện then chốt là nghịch lý “chính sách dày – kỹ thuật mỏng” trong chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm dựa trên nông nghiệp sinh thái và các giải pháp dựa vào tự nhiên (NbS). Theo ông Bùi Hải Nam (Phó Viện trưởng NIAPP), các dự án phụ thuộc mạnh vào ODA song/đa phương trong khi ngân sách nhà nước và vốn tư nhân còn hạn chế; phần lớn can thiệp nghiêng về cơ chế, chính sách, thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho cấp địa phương, dẫn đến cách làm từ trên xuống trong khi nền tảng kỹ thuật tại nông trại chưa được đầu tư tương xứng. NIAPP khuyến nghị thể chế hóa đối tác công–tư–cộng đồng (PPP+C), coi cộng đồng là đối tác bình đẳng để thúc đẩy hệ thống khuyến nông chuyên sâu, tùy chỉnh theo nhu cầu nông dân và điều kiện sinh thái địa phương, đồng thời nâng năng lực khuyến nông cộng đồng.Sự cần thiết nhân rộng các giải pháp dựa vào tự nhiên, sinh tháiNông nghiệp giữ vai trò then chốt ở Việt Nam: bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội, tạo sinh kế cho hơn 60% dân số và đóng góp khoảng 12% GDP (2024). Tuy nhiên, ngành đang chịu sức ép từ quy mô nông hộ nhỏ chiếm đa số, suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu, cùng biến động thị trường và dịch chuyển thị hiếu toàn cầu. Tại hội thảo, ông Vũ Thanh Liêm (Bộ NN-MT) nhấn mạnh nông nghiệp sinh thái là giải pháp trọng yếu: tối ưu quan hệ giữa sản xuất và bảo tồn đa dạng sinh học, tăng khả năng phục hồi hệ sinh thái, giảm phát thải, và cần công cụ vận hành cụ thể cùng lộ trình khả thi để triển khai. Đại diện UNDP, ông Vũ Thái Trường cho rằng các mô hình hiện còn phân tán, thiếu cơ chế và tài chính đủ mạnh để nhân rộng; nghiên cứu rà soát của NIAPP sẽ chỉ ra rào cản và động lực chuyển đổi, đóng góp trực tiếp cho Kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm.Ông Vũ Thái Trường, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường, UNDP tại Việt Nam, phát biểu ở hội thảo.Cần đặt nông dân ở trung tâm của chuyển đổiICRAF, với kinh nghiệm chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, giới thiệu các mô hình ở Ấn Độ, Philippines, Indonesia và Việt Nam. Ông Nguyễn Quang Tân (Điều phối viên quốc gia ICRAF) nêu khái niệm “hệ sinh thái chuỗi giá trị” và việc áp dụng tiếp cận cảnh quan nông nghiệp sinh thái, nông–lâm kết hợp. Trọng tâm can thiệp là giảm phân bón hóa học, thuốc BVTV và quản lý chu trình dinh dưỡng một cách bài bản để nâng sức chống chịu và tính bền vững của hệ thống.Từ thực tế trang trại Mục Đồng, nhà sáng lập kiêm CEO Nguyễn Thị Thịnh chia sẻ động lực lớn nhất là tạo niềm tin để nông dân dám theo đuổi nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn. Bắt đầu với 13 con bò mẹ, chị tự xây dựng nguyên tắc “5 không”, qua đó đưa Mục Đồng trở thành một trong những trang trại đầu tiên ở Việt Nam đạt chứng nhận hữu cơ của Nhật Bản (2021). Theo chị, nông nghiệp tuần hoàn vốn quen thuộc với nông thôn Việt Nam, nhưng việc lạm dụng hóa chất đã gây hệ lụy môi trường; đây là lúc hợp tác xã cần mạnh dạn chuyển đổi. Mô hình dùng phân bò nuôi trùn quế tại Mục Đồng vừa phục vụ nhu cầu nội bộ, vừa cung cấp vật tư cho các nhà sản xuất địa phương, hỗ trợ họ chuyển hướng hữu cơ – bền vững.Điều phối viên quốc gia của ICRAF tại Việt Nam Nguyễn Quang Tân chia sẻ kinh nghiệm thực hiện các dự án kỹ thuật ở châu Á. Cuộc điều tra cần thiết về các dự án nông thônPGS.TS Đào Thế Anh ghi nhận nỗ lực của NIAPP cùng sự hỗ trợ của UNDP, coi báo cáo về 275 chương trình/dự án nông nghiệp sinh thái là bức tranh tổng quan giúp nhận diện lỗ hổng hệ thống và đưa ra khuyến nghị phù hợp. Ông nhấn mạnh nông nghiệp sinh thái mang tính liên ngành, đã được lồng ghép trong Quyết định 300/QĐ-TTg, vì vậy các nghiên cứu tiếp theo cần tích hợp Kế hoạch hành động quốc gia như một cơ sở pháp lý để địa phương cụ thể hóa kế hoạch hành động. Ở góc độ kinh tế hộ, Nguyễn Thức Thi lưu ý quá trình chuyển đổi có thể khiến năng suất và giá trị ngắn hạn giảm, nên phải tính kỹ bài toán kinh tế để bảo đảm bền vững. Nguyễn Mạnh Hiệp (IUCN) chỉ ra khác biệt vùng miền: ĐBSCL thiên về “thuận thiên”, sinh kế và thích ứng khí hậu, trong khi các tỉnh phía Bắc chú trọng an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng. Từ các kết quả bước đầu, nhóm nghiên cứu khẳng định phối hợp đa ngành là chìa khóa thúc đẩy cơ chế tài chính xanh, góp phần tăng tốc chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm.Theo Quỳnh Chi-nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

30 Sep, 2025 406

BAO BÌ SẦU RIÊNG VÀ CÂU CHUYỆN PHÍA SAU

Câu chuyện của một chiếc bao bì sầu riêng: từ tem dán đến thương hiệu quốc giaMột chiếc bao bì sầu riêng có thể kể nhiều hơn câu chuyện của một món hàng. Trên lớp vỏ ấy là những “dấu hộ chiếu” của niềm tin: các chứng nhận từ tổ chức độc lập, các giải thưởng thương hiệu, thậm chí cả quốc kỳ như một lời cam kết về chất lượng và uy tín. Khi người mua cầm gói sản phẩm trên tay, họ không chỉ thấy hương vị của “vua trái cây”, mà còn thấy cả một tư duy quốc gia coi minh bạch và chuẩn hóa là nền tảng để nông sản đi xa.Đằng sau những biểu trưng ấy là một hệ sinh thái vận hành nhịp nhàng: nông dân trồng trọt theo chuẩn, doanh nghiệp chế biến – thương mại hóa, logistics bảo quản – vận chuyển, du lịch và truyền thông cùng khuếch đại giá trị. Tư duy đó không thể đo bằng một mùa vụ hay một nhiệm kỳ; nó đòi hỏi kế hoạch dài hơi, kỷ luật thực thi và sự đo lường bằng các chuẩn mực quốc tế thay vì lời tự xưng. Bao bì vì thế không còn là lớp giấy gói, mà trở thành bề mặt của niềm tin được kiểm định bởi bên thứ ba.Muốn đạt đến độ tin cậy ấy, các mắt xích phải cùng nhịp. Mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc phải thống nhất và không bị lợi dụng; quản lý nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp và hợp tác xã phải đồng hành thay vì mạnh ai nấy làm. Cần một “nhạc trưởng” để các phần không lạc nhịp, và một “tổng công trình sư” để ghép những mảnh rời rạc thành cấu trúc hoàn chỉnh, nơi mỗi quyết định ở đồng ruộng phản chiếu nhất quán trên quầy kệ siêu thị và trong trải nghiệm của du khách.Khi bao bì mang trên mình ngôn ngữ của chuẩn hóa, truy xuất và chứng nhận, nó bán không chỉ một sản phẩm mà còn bán niềm tin vào một quốc gia biết tổ chức chuỗi giá trị. Từ chiếc bao bì sầu riêng ấy, ta thấy cách một ngành hàng tự kể câu chuyện trưởng thành: đi từ hình ảnh đến bản chất, từ khẩu hiệu đến hệ thống, từ thương vụ ngắn hạn đến thương hiệu dài hạn. Và chính lúc đó, một gói hàng nhỏ bé có thể mở cửa cho cả một nền nông nghiệp bước ra thế giới.Theo Lê Minh Hoan-nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

25 Sep, 2025 355

LÂM ĐỒNG CẦN BỨT PHÁ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP AN TOÀN, HỮU CƠ

Sản xuất nông nghiệp ở Lâm Đồng vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn do việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật.Thời gian qua, nông nghiệp Lâm Đồng phát triển mạnh, tạo hàng trăm nghìn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đang đe dọa môi trường, tính bền vững sản xuất và sức khỏe người tiêu dùng. Tồn dư hóa chất không chỉ làm suy giảm đất, nguồn nước, đa dạng sinh học mà còn khiến nhiều lô hàng có nguy cơ bị trả về do vượt mức dư lượng tối đa (MRL), ảnh hưởng uy tín nông sản Việt Nam.Ở lĩnh vực rau, hoa – thế mạnh của Lâm Đồng – sản xuất vẫn manh mún, nhỏ lẻ, kiểm soát chất lượng chưa chặt chẽ. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế, biến đổi khí hậu làm sâu bệnh phức tạp, nông dân vẫn phụ thuộc nhiều vào thuốc hóa học.Theo TS. Đinh Văn Phê (WASI), xuất khẩu trái cây như chanh leo, sầu riêng, bơ ngày càng bị siết chặt tiêu chuẩn. Nếu sản xuất nhỏ lẻ, khó kiểm soát dư lượng hóa chất, sẽ khó đáp ứng yêu cầu quốc tế.Điển hình tại xã Kiến Đức (Đắk R’lấp), gia đình anh Nguyễn Văn Thế trồng hơn 2 ha cà phê xen canh sầu riêng, thu nhập ổn định hơn. Dù đã chuyển sang dùng chế phẩm sinh học, anh vẫn thừa nhận sâu bệnh khó kiểm soát, nhiều lúc buộc phải dùng thuốc hóa học để tránh mất mùa.Anh Nguyễn Văn Thế, xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng cũng như một số hộ nông dân khác đang từng bước tìm hiểu và chuyển dần sang canh tác hữu cơ. “Chúng tôi rất muốn bỏ hẳn thuốc bảo vệ thực vật nhưng mưa nhiều, ẩm cao khiến sâu bệnh, nấm xuất hiện liên tục, ảnh hưởng lớn đến mùa vụ, nên chưa thể chuyển hoàn toàn sang canh tác hữu cơ,” anh Nguyễn Văn Thế chia sẻ. Câu chuyện này phản ánh khó khăn chung: dù nhận thức đã thay đổi, nông dân vẫn cần hỗ trợ đồng bộ từ chính quyền, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và đầu ra ổn định để mạnh dạn sản xuất an toàn, bền vững. Dưới áp lực năng suất và chất lượng, nhiều hộ vẫn phụ thuộc hóa chất. Khảo sát ngành nông nghiệp cho thấy tại các vùng chuyên canh cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái, lượng phân bón và thuốc thường vượt nhu cầu 10–20%, gây thoái hóa đất và ảnh hưởng nguồn nước. TS. Đinh Văn Phê khuyến nghị: quản lý đất hợp lý; kiểm tra chất lượng đất, bảo đảm không nhiễm kim loại nặng/hóa chất độc hại; thực hiện luân canh; tăng cường bón phân hữu cơ đã ủ hoai; tuyệt đối không dùng phân tươi để giảm dư lượng hóa chất và phục hồi hệ sinh thái đất.“Chúng tôi rất muốn bỏ hẳn thuốc bảo vệ thực vật nhưng mưa nhiều, ẩm cao khiến sâu bệnh, nấm xuất hiện liên tục, ảnh hưởng lớn đến mùa vụ, nên chưa thể chuyển hoàn toàn sang canh tác hữu cơ,” anh Nguyễn Văn Thế chia sẻ. Câu chuyện này phản ánh khó khăn chung: dù nhận thức đã thay đổi, nông dân vẫn cần hỗ trợ đồng bộ từ chính quyền, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và đầu ra ổn định để mạnh dạn sản xuất an toàn, bền vững.Dưới áp lực năng suất và chất lượng, nhiều hộ vẫn phụ thuộc hóa chất. Khảo sát ngành nông nghiệp cho thấy tại các vùng chuyên canh cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái, lượng phân bón và thuốc thường vượt nhu cầu 10–20%, gây thoái hóa đất và ảnh hưởng nguồn nước.TS. Đinh Văn Phê khuyến nghị: quản lý đất hợp lý; kiểm tra chất lượng đất, bảo đảm không nhiễm kim loại nặng/hóa chất độc hại; thực hiện luân canh; tăng cường bón phân hữu cơ đã ủ hoai; tuyệt đối không dùng phân tươi để giảm dư lượng hóa chất và phục hồi hệ sinh thái đất.Dưới áp lực năng suất và chất lượng, nhiều hộ vẫn phụ thuộc hóa chất. Khảo sát ngành nông nghiệp cho thấy tại các vùng chuyên canh cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái, lượng phân bón và thuốc thường vượt nhu cầu 10–20%, gây thoái hóa đất và ảnh hưởng nguồn nước.TS. Đinh Văn Phê khuyến nghị: quản lý đất hợp lý; kiểm tra chất lượng đất, bảo đảm không nhiễm kim loại nặng/hóa chất độc hại; thực hiện luân canh; tăng cường bón phân hữu cơ đã ủ hoai; tuyệt đối không dùng phân tươi để giảm dư lượng hóa chất và phục hồi hệ sinh thái đất.Nếu nông dân không thay đổi tư duy canh tác theo hướng hữu cơ, việc xuất khẩu nông sản sẽ gặp nhiều khó khăn.Trước thực trạng lạm dụng hóa chất, Lâm Đồng đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy nông nghiệp an toàn, bền vững. Đến 8/2025, toàn tỉnh có 23.489 ha đạt chuẩn GAP và tương đương, 122.247 ha đạt các chuẩn quốc tế (UTZ, 4C, Rainforest Alliance). Tuy nhiên, diện tích hữu cơ mới 4.024 ha, còn rất nhỏ so với hơn 300.000 ha đất nông nghiệp, cho thấy quy mô sản xuất hữu cơ vẫn chưa tương xứng tiềm năng và nhu cầu thị trường.ThS. Bùi Khánh Tùng (Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam) đề xuất Tây Nguyên, trong đó có Lâm Đồng, cần khuyến khích nghiên cứu, sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học; đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn để nông dân sử dụng phân bón, thuốc an toàn. Một giải pháp then chốt là chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ: khi có doanh nghiệp bao tiêu, nông dân buộc tuân thủ quy trình, giữ được hợp đồng và đầu ra ổn định. Lâm Đồng đã nhân rộng một số HTX rau, hoa công nghệ cao, ghi chép nhật ký canh tác, bảo đảm truy xuất nguồn gốc.Ngoài ra, chuyên gia khuyến nghị thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn – hữu cơ, chọn giống kháng sâu bệnh để giảm áp lực thuốc hóa học, và đầu tư công nghệ sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất, nâng chất lượng nông sản phục vụ xuất khẩu.Trang trại Gia Trung ở phường Đông Gia Nghĩa đang canh tác măng cụt và sầu riêng theo hướng hoàn toàn hữu cơ. Ông Bùi Khánh Tùng nhấn mạnh cần hình thành chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ: khi có doanh nghiệp bao tiêu, nông dân sẽ tuân thủ quy trình an toàn theo tiêu chuẩn để giữ hợp đồng và đầu ra ổn định. Lâm Đồng đã nhân rộng các HTX rau, hoa công nghệ cao, ghi chép nhật ký canh tác và truy xuất nguồn gốc.Các chuyên gia cũng khuyến nghị đẩy mạnh nông nghiệp tuần hoàn – hữu cơ, chọn giống kháng sâu bệnh để giảm áp lực thuốc hóa học, đồng thời đầu tư công nghệ sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất và nâng chất lượng nông sản xuất khẩu.Theo Phạm Hoài - nongnghiepvamoitruong

Xem chi tiết..